• youtube
  • facebook

Điện Biên: Những người “gánh chữ” lên vùng cao

Phải yêu trẻ lắm, yêu nghề lắm thì những thầy cô giáo trên vùng cao mới có thể hy sinh cả tuổi xuân của mình để mang con chữ tới cho các em học sinh…

Hết lòng vì học trò nghèo vùng cao

Mường Lay - thị xã ngã ba sông này chiếm trên 80% là đồng bào người dân tộc thiểu số (có bản 100% là người dân tộc Mông). Thị xã đang trong quá trình tái thiết nên đời sống của nhân dân chưa ổn định, số hộ nghèo ở các bản vùng cao còn cao; môi trường bị ô nhiễm; giao thông đi lại khó khăn; số lượng học sinh luôn biến động… nên việc thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục và duy trì sĩ số học sinh trong toàn thị xã gặp rất nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, trong bộn bề những trở ngại mà thầy và trò ngành giáo dục thị xã đang hàng ngày nỗ lực vượt qua, đã có rất nhiều thầy cô giáo hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để đem cái chữ đến với học sinh vùng cao - vùng đặc biệt khó khăn này. Và có nhiều thầy cô đã gắn bó với vùng đất Mường Lay hàng chục năm với niềm mong muốn được “gieo chữ” cho các em học sinh giữa đại ngàn nơi vùng Tây Bắc giúp các em có tri thức để sau này lớn lên xây dựng quê hương và bảo vệ đất nước.

Cô giáo Vương Thị Kim Lý (dân tộc Thái, quê Lai Châu) tình nguyện về trường mầm non Lay Nưa (xã Lay Nưa) công tác 21 năm.

Gần 10 năm nay, cô lại tiếp tục “xung phong” về bản Huổi Luân (đây là bản vùng cao rất khó khăn, cách trung tâm xã gần 10km) đảm nhiệm trọng trách cô giáo cắm bản (theo chế độ 135) dạy ở bậc mầm non (từ 3 đến 5 tuổi) tâm sự: Bản Huổi Luân là bản 100% là người dân tộc Mông, hiện có 15 hộ dân với 121 nhân khẩu. Lớp học tạm dành cho lứa tuổi mầm non ở đây mới được mở từ năm học 2009 - 2010 đến nay và phải đi mượn đất của nhà bí thư chi bộ ở bản để dựng lớp. Lớp học được đồng bào chung tay góp sức dựng lên để các cháu có chỗ ngồi học. Nói là lớp học cho “oai” nhưng thực ra rất tạm bợ, thiếu thốn đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị phục vụ việc dạy và học cho các cháu, thầy cô ở đây đều phải tự tạo ra…nên ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của thầy và trò nơi đây.

Cô Lý nhớ lại: “Lần đầu tiên được phân công đi cắm bản, nói thực những người trẻ, chưa lập gia đình như chúng tôi quả thực rất nản. Tuy nhiên, khi đặt chân đến các bản cách xa trung tâm xã hàng chục km, chúng tôi được đồng bào ở bản mình công tác thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ rất nhiều nên dần dần chúng tôi đã vượt qua những trở ngại, hòa nhập và hiểu đồng bào hơn…”.

Cũng theo cô Lý, để làm tốt nhiệm vụ của mình đòi hỏi mỗi thầy cô giáo phải thực sự tâm huyết với nghề, kiên trì, nhẫn nại và phải gần dân, thương yêu các cháu như con mình thì mới thuyết phục được các cháu đến lớp và duy trì ổn định sỹ số lớp. Mặt khác, mỗi thầy cô làm nghĩa vụ cắm bản phải biết hoặc hiểu được tiếng bản địa và phong tục tập quán của đồng bào nơi mình công tác mới mong thực hiện được ước nguyện “gieo chữ” tất cả vì học trò nghèo vùng cao.

Rời bản Huổi Luân, trong lòng chúng tôi thật ngậm ngùi về việc dạy và học của thầy và trò nơi vùng cao đặc biệt khó khăn nhưng chưa phải là bản khó khăn nhất ở thị xã này. Bản Huổi Min là bản khó khăn nhất ở thị xã Mường Lay - nơi mà cuộc sống của cả thầy và trò còn bao bộn bề khó nhọc.

Bản Huổi Min là bản 100% là người dân tộc Mông, cách xa trung tâm thị xã chừng 30km, đường sá đi lại vô cùng hiểm trở (bên núi cao - bên vực sâu) nên việc đến trường của các em học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Có em HS từ nhà xuống điểm bản để học phải đi mất hàng tiếng đồng hồ đi bộ.

Thầy Lê Thiếu Nam (quê Hưng Hà - Thái Bình) tình nguyện lên Mường Lay công tác từ năm 1972 đến nay (cắm bản gần 3 năm ở Huổi Min) cho biết: “Bản Huổi Min chỉ có 14 hộ với 84 nhân khẩu nhưng hàng năm cứ đến tháng 4 là nhà nào cũng đói cho đến tận tháng 8 thu hoạch ngô thì mới có cái để mà ăn. Nhiều nhà đông con (trung bình 5 con/1 gia đình), hiện có 5 cặp vợ chồng có trên 6 con nên hiện tại đã phải ăn ngô, ăn sắn. Học sinh ở bản tuy rất nghèo nhưng chăm học. Có nhiều em học rất tốt nhưng khổ nỗi sách vở thiếu, có khi 3 em phải học chung nhau một cuốn sách giáo khoa. Gần cả đời người gắn bó với mảnh đất và học trò nơi đây, tôi thấu hiểu được những nỗi nhọc nhằn của người dân tộc, hiểu về đời sống, phong tục tập quán của họ; hiểu về nỗi buồn vui của những thầy cô giáo và các thế hệ học sinh nghèo vùng cao”.

Và vượt qua tất cả nỗi vất vả của địa hình rừng rú, sự nhiệt huyết của người làm trọng trách trồng người và sự cảm thông, chia sẻ của gia đình, người thân, các thầy cô vào cắm bản ở đây đều rất mực thương yêu học trò, muốn truyền lại kiến thức cho các em; giúp các em học được chữ để làm hành trang cho các em bước vào đời vững vàng hơn.

Một buổi lên lớp của học sinh tại bản Huổi Min. ẢNH: T. LIÊN

Một buổi lên lớp của học sinh tại bản Huổi Min. ẢNH: T. LIÊN

Cả cuộc đời ước nguyện được “gánh chữ” lên ngàn

Dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn… nhưng bằng tấm lòng và trách nhiệm của những người đảm nhận trọng trách trồng người, các thầy cô giáo ngành GD - ĐT Điện Biên nói chung và thị xã Mường Lay nói riêng đã không ngừng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ cao cả vì sự nghiệp trồng người của mình.

Cô giáo Nguyễn Thị Bình (quê gốc Thái Bình) sinh ra và lớn lên ở vùng đất Mường Lay tâm sự: “Bố mẹ em đều người gốc Thái Bình lên đây khai hoang từ năm 1963 (theo diện di dân xây dựng vùng kinh tế mới theo chủ trương của Đảng), em vào cắm bản ở Huổi Min được gần 3 năm.

Thời gian đầu được phân công vào bản, em cũng cảm thấy rất buồn tẻ, nhưng có xuống bản mới hiểu được tấm lòng của đồng bào. Họ yêu mến, kính trọng thầy cô như những người ruột thịt trong gia đình. Họ sẵn sàng sẻ chia, làm vơi đi nỗi buồn, nỗi vất và của các thầy cô để yên tâm công tác. Hơn nữa, học sinh ở đây cũng ham học. Các em không quản ngại đường xa, mang cả gạo đến trường góp phần vào bữa ăn chung cùng các bạn.

Thấy các em học sinh chịu khó học hành, không phải mất nhiều công sức đến tận nhà vận động các em ra lớp học đó là động lực, là niềm vui, niềm hạnh phúc vô bờ bến của các thầy cô giáo như chúng em mang hết sức lực vì các em học sinh”.

Cô giáo Lã Thị Diên công tác tại trường THCS Sông Đà (quê Thái Bình) lên Mường Lay công tác hơn 30 năm tâm sự: “Đời sống của đồng bào và giáo viên nơi đây còn rất vất vả, thiếu thốn đủ bề. Nhưng với sự quyết tâm vượt khó của các thầy cô cùng sự cần mẫn học tập của HS ở đây đã thôi thúc các thầy cô yên tâm công tác. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với giáo dục vùng cao là việc đi lại của học sinh quá khó khăn, tỷ lệ đồng bào là người dân tộc thiểu số cao (chiếm hơn 90%), cơ sở vật chất quá thiếu thốn.

Hơn nữa, do thị xã đang trong quá trình quy hoạch tái định cư chậm, rất nhiều giáo viên phải đi thuê nhà giá đắt đỏ, di chuyển nhiều lần nên đời sống ăn ở của giáo viên còn nhiều xáo trộn. Vì vậy, hi vọng các cấp ngành liên quan cần quan tâm hơn nữa đến đời sống giáo viên vùng cao giúp họ yên tâm cống hiến cho ngành giáo dục”.

Chia sẻ với với những khó khăn, vất vả của cán bộ giáo viên, đại diện Phòng GD & ĐT thị xã Mường Lay cho biết, ở khắp thị xã này hễ mưa là lầy, nắng là bụi, nhưng các em học sinh luôn rộn rã tiếng cười khi đến trường, người dân trên những con đường nhầy nhụa, không ai nhăn nhó, gặp nhau vẫn chào hỏi, nở nụ cười vì họ đã quen rồi, quen với nỗi khổ của những ai đã sống ở đây...

Các thầy cô luôn nỗ lực vượt khó, tâm huyết với nghề và dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục Mường Lay. Cho đến nay, ngành giáo dục Mường Lay đã hoàn thành xong chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và sớm hoàn thành mục tiêu chống mù chữ và phổ cập THCS. Đồng thời, trong những năm qua, tỉ lệ học sinh giỏi và giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp thị xã và cấp tỉnh liên tục tăng theo các năm.

Để đạt được kết quả trên, các trường thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ năm học, dạy đúng, dạy đủ chương trình theo chuẩn kiến thức, kỹ năng với nhiều giải pháp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo.

create

Thủy Liên / phapluatxahoi.vn